Thursday, November 5, 2009

Urgent News

The People's Democratic Party
dangdanchunhandan@yahoo.com


URGENT NEWS: Vu Hung, Jailed Dissident’s Life Is In Danger

November, 5, 2009 - Vu Hung, a teacher and pro-democracy activist has been on hunger strike since October 7, 2009 after Hanoi authorities sentenced Hung to three years’s imprisonment and three year of “house arrest”. His life is in danger due to serious illness and month-long hunger strike.

On Wednesday November 4, 2009, his wife Mrs. Ly Thi Tuyet Mai came to visit him at New Hoa Lo prison in Hanoi, she was told Vu Hung was no longer available to see her. But reliable sources told her, due to his health has deteriorated rapidly, fearing Vu Hung’s life is in danger, the prison guards have rushed him to the hospital.

Ha noi authorities charged Vu Hung and many other pro-democracy activists as writer Nguyen Xuan Nghia, student Ngo Quynh, Mr. Pham Van Troi, poet Tran Duc Thach, Mr. Nguyen Van Tinh on recent trials in Ha Noi and Hai Phong to violate of Vietnam criminal code, Article 88 for “propagating materials to against the state”. In fact, Hung only hanged the below banner in Hanoi on July 28, 2008, calling for “Democracy, Multi-Party System and Anti-Corruption” in Vietnam.

Banner calls for democracy, multi-party and anti-corruption in Ha Noi

To protest the unfair and unjust verdict, Vu Hung staged hunger strike since then. Currently, Vu Hung is probably taken to a Ministry of Public Security’s Hospital 198 in Hanoi for urgent treatment after he has totally collapsed due to hunger strike almost 30 days in New Hoa Lo prison.

Vu Hung also protests Vietnam jail’s conditions where the government has used prison system to terrorize and dehumanize the pro-democracy activists. In New Hoa Lo prison and all of other Vietnam prison camps, many hardcore criminals are being jailed together with the political prisoners in small and dirty cell. In very common case, prison guards use criminal prisoners to beat and intimidate political prisoners. No TV, printed materials, books or magazines allow to watch and read except the mouth-piece of the Communist Party “Nhan Dan” newspaper.

Recently, on October, 7 2009, around 40 political and religious prisoners in Z30A Prison Camp in Xuan Loc district, Dong Nai province had staged a hunger strike to protest the ruthless and inhuman conditions of Vietnam’s jail. They demand to have rights to read newspapers and watch news other than routine official voice newspaper of the Communist Party. They also want to have a library and allow times for political and religious prisoners to read news. Due to this daring protest, many political prisoners as Dr. Le Nguyen Sang, lawyer Tran Quoc Hien, lawyer Nguyen Bac Truyen, Mr. Truong Quoc Huy and religious prisoners as Mr. Quynh Anh, Mr. Tran Huu Canh all were locked into solitary confinement and denied visit times from their relatives.

The People’s Democratic Party calls on the Hanoi authorities to release teacher Vu Hung immediately for urgent medical treatment, to respect human rights, to end “torture”, cruel and inhuman prison’s policy in ill-treatment and punishment of the political and religious prisoners. (1)

Tran, Nam
Spokesperson of the People’s Democratic Party


(1) Convention against Torture and Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment (United Nations High Commissioners for Human Rights)

Article 1
1. For the purposes of this Convention, the term "torture" means any act by which severe pain or suffering, whether physical or mental, is intentionally inflicted on a person for such purposes as obtaining from him or a third person information or a confession, punishing him for an act he or a third person has committed or is suspected of having committed, or intimidating or coercing him or a third person, or for any reason based on discrimination of any kind, when such pain or suffering is inflicted by or at the instigation of or with the consent or acquiescence of a public official or other person acting in an official capacity. It does not include pain or suffering arising only from, inherent in or incidental to lawful sanctions.

-------------------

Đảng Dân Chủ Nhân Dân
dangdanchunhandan@yahoo.com
http://dangdcnd.blogspot.com/


Tin Khẩn: Tính Mạng Thầy Vũ Hùng Đang Bị Nguy Hiểm

Ngày 5 tháng 11 năm 2009 - Thầy giáo Vũ Hùng, một người tranh đấu cho dân chủ hiện đang trong tình trang nguy hiểm vì đã tuyệt thực kể từ ngày 7 tháng 10 năm 2009 sau khi nhà cầm quyền Hà Nội đã tuyên án ông 3 năm tù và 3 năm quản chế.

Hôm thứ tư, ngày 4 tháng 11 năm 2009, bà Lý Thị Tuyết Mai, vợ của Vũ Hùng đã bị từ chối gặp chồng sau khi bà đến trại giam Hoả Lò nhằm thăm viếng Vũ Hùng. Trại giam cho biết ông Hùng không muốn gặp bà, nhưng các nguồn tin thân cận tiết lộ là Vũ Hùng đang trong tình trạng nguy kịch vì tuyệt thực và đã bị công an đưa ra khỏi trại giam.

Nhà cầm quyền Hà nội đã tuyên án và cáo buộc thầy giáo Vũ Hùng và nhiều nhà tranh đấu cho dân chủ khác như nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, sinh viên Ngô Quỳnh, anh Phạm Văn Trội, nhà thơ Trần Đức Thạch, ông Nguyễn Văn Tính tội danh “tuyên truyền chống nhà nước” phạm tội 88, bộ luật hình sự nước Việt Nam. Trên thực tế, thầy giáo Vũ Hùng bị trấn áp vì đã dám treo bảng hiệu đòi “Dân Chủ, Đa Đảng và Chống Tham Nhũng” ngay tại Hà Nội hôm 28 tháng 7 năm 2008.

Nhằm phản đối bản án bất công và phi lý, thầy giáo Vũ Hùng đã tuyệt thực kể từ hôm bị tuyên án. Hiện nay, vì sức khoẻ suy yếu trầm trọng, công an đã đưa Vũ Hùng ra khỏi trại giam và có thể đã chuyển Vũ Hùng về bệnh viện 198 trực thuộc Bộ Công An quản lý. Thầy giáo Vũ Hùng từng cho biết anh cũng phản đối chính sách giam cầm tàn bạo, vi phạm nhân quyền của Hà Nội khi giam chung tù hình sự với tù chính trị nhằm trấn áp và trả thù các nhà tranh đấu cho dân chủ. Tại nhà tù Hoả Lò cũng như các nhà tù khác trên đất nước Việt Nam, tù hình sự giam chung với tù chính trị trong các phòng giam nhỏ xíu, bẩn thỉu. Cán bộ trại giam thường xuyên dùng tù hình sự để đánh đập và đe doạ các tù nhân chính trị. Trong tù, đối với các tù nhân chính trị, sách vở, báo chí, tivi đều bị cấm ngoại trừ tờ báo Nhân Dân, tiếng nói của Đảng CSVN.

Cũng cần nhắc lại, ngày 7 tháng 10 năm 2009 vừa qua, tại trại giam Z30A Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, hơn 40 tù nhân chính trị và tôn giáo đã đồng loạt tuyệt thực phản đối chính sách giam cầm tàn bạo và mất nhân tính của chể độ Hà Nội. Các tù nhân này đòi hỏi phải được quyền đọc các thông tin khác bên cạnh tờ báo Nhân Dân, được quyền có một thư viện để họ có thể xem sách báo thư giản trong điều kiện bị giam cầm tồi tệ. Vì những hoạt động chống đối có tính tập thể này, nhiều tù nhân chính trị gồm bác sĩ Lê Nguyên Sang, luật sư Trần Quốc Hiền, luật sư Nguyễn Bắc Truyễn, Trương Quốc Huy và tù nhân tôn giáo như ông Trần Hữu Cảnh, ông Quỳnh Anh đã bị biệt giam và từ chối quyền được gia đình thăm viếng.

Đảng Dân chủ Nhân dân kêu gọi nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do cho thầy giáo Vũ Hùng để ông được sớm điều trị. Hà Nội cần tôn trọng nhân quyền, chấm dứt chính sách “tra tấn”, giam cầm tù nhân một cách mất nhân tính và tàn độc chỉ nhằm để trả thù và hành hạ những tù nhân chính trị và tôn giáo.

Trần Nam
Phát ngôn nhân Đảng Dân Chủ Nhân Dân.

Friday, October 9, 2009

Bản Thông Tin Báo Chí

ÐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
The People's Democratic Party
http://dangdcnd.blogspot.com/
dangdanchunhandan@yahoo.com


Ngày 9 tháng 10 năm 2009


Bản Thông Tin Báo Chí

Từ ngày 6 đến 9 tháng 10 năm 2009, nhà cầm quyền Hà Nội đã liên tục xét xử các nhà bất đồng chính kiến. Tại Hà Nội có nhà thơ Trần Đức Thạch, nhà giáo Vũ Hùng và anh Phạm Văn Trội. Tại Hải Phòng gồm nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, anh Ngô Quỳnh, ông Nguyễn Mạnh Sơn, ông Nguyễn Văn Tính, ông Nguyễn Văn Túc, ông Nguyễn Kim Nhàn.

Các nhà dân chủ này đều bị nhà cầm quyền Hà Nội cáo buộc phạm tôi tuyên truyền chống chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, thuộc điều 88 luật hình sự Việt Nam. Tất cả đều bị tuyên án nhiều năm tù, từ 2 năm đến 6 năm với những cáo buộc giả tạo và tùy tiện. Thực tế, họ chỉ bày tỏ quyền tự do tư tưởng qua các phương tiện ôn hoà. Những quyền này đều được công nhận trong bản Công ước Quốc tế về quyền Dân sự và Chính trị, điều 19 xác nhận quyền “tìm kiếm, thâu nhận và chuyển đạt thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng mà không bị ngăn chận, giới hạn bởi bất cứ đìều kiện nào.” Hơn nữa, bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, mà Việt Nam là hội viên, đã khẳng quyết “không ai bị truy tố, xua đuổi hoặc bắt giữ một cách tùy tiện” khi thực hiện những quyền căn bản này. Trong khi đó, điều 69 Hiến pháp của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đã long trọng khẳng định “công dân có quyền bày tỏ chính kiến, quyên tự do tư tưởng, tự do thông tin báo chí, quyền biểu tình và thành lập các tổ chức, hiệp hội”. Dù vậy, nhà cấm quyền Hà Nội đã ngang ngược phủ nhận và chà đạp những quyền cơ bản này, tiếp tục đàn áp các nhà bất đồng chính kiến bằng những bản án nặng nề.

Đảng Dân chủ Nhân dân phản đối các phiên toà và bản án do nhà cầm quyền Hà Nội tạo dựng. Chúng tôi kêu gọi đảng viên Đảng Dân chủ Nhân dân và các Tổ chức Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, cùng nổ lực hơn nữa cho sự nghiệp đấu tranh vì Tư do, Dân chủ và Nhân quyền cho Việt Nam.

Trần Nam
Phát ngôn nhân Đảng Dân chủ Nhân dân.

----------

The People's Democratic Party

http://dangdcnd.blogspot.com/
dangdanchunhandan@yahoo.com

October 9, 2009


For Immediate Release



On October 6, 7, 8 and 9, 2009, the Hanoi authorities have tried these pro-democracy activists including writer Nguyen Xuan Nghia, Mr. Ngo Quynh, Mr. Nguyen Manh Son, Mr. Nguyen Van Tinh, Mr. Nguyen Van Tuc, Mr. Nguyen Kim Nhan in Hai Phong and Mr. Pham Van Troi, teacher Vu Hung and poet Tran Duc Thach in Ha Noi, Vietnam. All were imprisoned with various sentences from 2 to 6 years in jail for the fabricated and arbitrary charges of the so-called “violation of Article 88 of Vietnam’s Criminal Code”.

The above individuals have committed no crimes. They were only exercising their rights to freedom of expression by peaceful means. Vietnam is a member of the UN Commission on Human Rights in which the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR), Article 19, clearly protects the right of the individual to "seek, receive and impart information and ideas of all kinds, regardless of frontiers, either orally, in writing or in print, or through any other media of his or her choice". In addition, according to Article 9 of The Universal Declaration of Human Rights, "No one shall be subjected to arbitrary arrest, detention or exile," and The Socialist Republic of Vietnam's Constitution itself declares the "right of freedom expression, right of freedom press, right of freedom exchange information and right to form an association and right to demonstration" in article 69. However, the Vietnam Communist Party has ignored these basic human rights, continued to crackdown and used harsh sentences to silence pro-democracy activists.

The People’s Democratic Party strongly condemns the trials and sentencing, staged by the Vietnamese Communist Party. We call upon our members and the Vietnamese people at home and abroad to continue fighting for Human Rights, Freedom and Democracy for Vietnam.

Regards,
Tran, Nam
Spokesperson of the People’s Democratic Party

Thursday, September 17, 2009

14 Tháng 9 Năm 1958 – Ngày Đảng CSVN Ký Công Hàm Bán Nước


Trần Nam - ĐDCND

Trong cuộc gặp giữa Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng và Phó thủ tướng Trung Quốc Li Xiannian hồi tháng 6, 1977 tại Bắc Kinh, Li nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng “Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc và những điều này có chứng cớ lịch sử để xác định”. Đồng thời cũng nói thêm “trong quá khứ phiá Việt Nam đã công nhận điều này”, một cách ám chỉ chính cá nhân Thủ tướng Phạm Văn Đồng. (Beijing Review – May 1979)

Tài liệu không nói rỏ Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã phản bác lại những lập luận của Trung Quốc thế nào để bênh vực chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Tuy nhiên, dư luận có thể hiểu là đảng Cộng sản Việt Nam và đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã không thể chống đở nổi luận điệu này vì bị rơi vào thế “há miệng mắc quai”.

Theo Bộ ngoại giao Trung Quốc thì chủ quyền của họ đối với Trường Sa và Hoàng Sa là không thể tranh cải (Beijing Review, Feb 18, 1980). Vì chính Hà Nội, trong các cuộc đàm phán trước kia đã chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này rồi, vì vậy nếu Hà Nội thay đổi thái độ của họ thì không có cơ sở. Trung Quốc đã đưa ra hai sự kiện cụ thể để làm bằng chứng Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng đồng ý với Trung Quốc về chủ quyền của hai quần đảo đang tranh chấp này.

Sự kiện thứ nhất là vào tháng 6 năm 1956, Phó thủ tướng Việt Nam, ông Ung Văn Khiêm, thay mặt Bắc Việt Nam xác nhận với phiá Trung Quốc như sau “Theo các tài liệu lịch sử từ phía chúng tôi (Việt Nam), đảo Xisha (Hoàng Sa) và Nansha (Trường Sa) thuộc về vùng đất lịch sử của quý quốc (Trung Quốc)”.

Sự kiện thứ hai là ngày 14 tháng 9 năm 1958, tức 2 năm sau đó, Thủ tướng Bắc Việt Nam đã gửi công hàm đến Thủ tướng Chu Ân Lai xác nhận chủ quyền Trung quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sau khi Trung Quốc chính thức công bố chủ quyền lãnh hải của họ là 12 hải lý, bao gồm luôn các quần đảo Hoàng Sa (Xisha) và Trường Sa (Nansha) của Việt Nam. (1)

Nội dung bức công hàm Thủ tướng Bắc Việt Nam Phạm Văn Đồng viết như sau “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958”.

Năm 1979, 21 năm sau, khi chiến tranh biên giới Việt-Trung bùng nổ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tìm cách phủ nhận công hàm trên khi trả lời cuộc phỏng vấn của tờ báo Viễn Đông Kinh Tế. Ông Đồng cho rằng vì lúc đó đất nước có chiến tranh nên Đảng và Nhà nước đã phải ứng xử như vậy. Nói cách khác, vì quyền lợi của đảng CSVN và vì những mưu cầu chính trị, đảng CSVN sẳn sàng nhượng bộ về nhiều mặt, kể cả việc bán đứng chủ quyền của đất nước.

Hiện nay vấn đề tranh dành chủ quyền Trường Sa và Hoàng Sa đã càng lúc càng trở nên gay gắt, có nguy cơ đối đầu bằng chiến tranh để giải quyết những mâu thuẩn. Sự kiện Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay mặt đảng CSVN xác nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này đặt cho Hà Nội ở vị thế khó xử, cho dù chủ quyền của Việt Nam đã có những chứng liệu lịch sử xác nhận. Việt Nam hiện ra sức giải thích với dư luận trong và ngoài nước về lỗi lầm họ đã mắc phải, biện minh rằng “Trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ nên Việt Nam phải nhượng bộ trước áp lực của Trung Quốc, mặc dù công hàm viết như vậy nhưng không ảnh hưởng đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Điều nghịch lý là trong bối cảnh lịch sử lúc đó, năm 1958, chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về phiá Chính phủ Miền Nam Việt Nam. Trong khi phiá Miền Nam đã tìm đủ mọi cách để khẳng định chủ quyền thì đảng CSVN lại trơ trẻn ra công hàm phủ nhận chủ quyền của họ, phản bội quyền lợi đất nước và dân tộc, cam tâm bán đứng hai quần đảo này cho phiá Trung Quốc.

Năm 1951 tại Hội nghị ở San Francisso, khi Nhật ký Hiệp định hoà bình, Hiệp định này đã không đề cập rỏ ràng chủ quyền của nước nào đối với Trường Sa và Hoàng Sa. Chính phủ Việt Nam, Thủ tuớng Trần Văn Hữu có mặt trong Hội nghị đã tuyên bố công khai Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thủ tướng Trần Văn Hữu, khẳng định tại Hội nghị trong ngày 7 tháng 7 năm 1951 như sau: “Trong khi chúng ta cùng khai dụng mọi cơ hội để làm giảm đi những căng thẳng, phiá Việt Nam chúng tôi xin khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa vì những quần đảo này luôn thuộc về Việt Nam”. (2, 3)

Trong số 51 quốc gia tham dự, đại biểu phía Liên Bang Sô Viết sau đó đề nghị nên thêm một phần trong bản Hiệp định, đề cập rằng Nhật đặt hai quần đảo này dưới chủ quyền của Trung Quốc. Đề nghị đó đã bị Hội nghị biểu quyết không chấp thuận với tổng số 46 phiếu thuận. Nói cách khác, Hội nghị với đại biểu của 46 trong tổng số 51 quốc gia tham dự lúc đó đã công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là không thể phủ nhận. Sự kiện Trung Quốc đã không phản bác tuyên bố của phiá Việt Nam trước công luận thế giới sau Hội nghị 1951 tại San Francisco đã xác nhận điều này. Tuy nhiên, đến khi Đảng CSVN, đại diện là Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vì quyền lợi của Đảng đã ký công hàm “bán nước” vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 thì phiá Trung Quốc có cở sở để chính thức phản bác và ngang ngược đòi chủ quyền của họ trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Nước chảy đá mòn nhưng “Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Vết nhơ về lỗi lầm ngoại giao trước dư luận thế giới có thể che đậy, nhưng vết nhơ về tội lỗi mang tính lịch sử thì không thể xoá nhoà.

---------

1- DECLARATION OF THE GOVERNMENT OF THE PEOPLE'S REPUBLIC OF CHINA ON THE TERRITORIAL SEA
(Approved by the 100th Session of the Standing Committee of the National People's Congress on 4th September, 1958)

The People's Republic of China hereby announces:
(1) This width of the territorial sea of the People's Republic of China is twelve national miles. This provision applies to all Territories of the People's Republic of China, including the mainland China and offshore islands, Taiwan (separated from the mainland and offshore islands by high seas) and its surrounding islands, the Penghu Archipelago, the Dongsha Islands, the Xisha islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China. http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm

2- On July 7, 1951, Tran Van Huu, head of the Bao Dai Government's delegation to the San Francisco Conference on the peace treaty with Japan declared that the archipelagoes of Hoang Sa and Truong Sa were part of Vietnamese territory. This declaration met with no challenge from the 51 representatives at the conference. http://en.wikipedia.org/wiki/Transportation_in_the_Spratly_Islands

3 - On 7 July 1951 the head of the Vietnamese delegation, Tran Van Huu, addressed the conference on the issue of Truong Sa: As we must frankly profit from all the opportunities offered to us to stifle the germs of discord, we affirm our rights to the Spratly and Paracel islands, which have always belonged to Vietnam. (Ministry of foreign affairs socialist republic of Vietnam 1981)

Wednesday, August 26, 2009

Việt Nam Một Cổ Hai Tròng


Trần Nam
http://dangdcnd.blogspot.com/


Ngày 2 tháng 9 năm 1945, ông Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Ba đình. Thay mặt đảng CSVN, ông Hồ đã kết thúc chế độ thực dân Pháp, mở đầu nền độc lập của Việt Nam. Tuy nhiên, cũng từ thời điểm lịch sử đó, đại diện cho đảng CSVN, ông Hồ Chí Minh đã chính thức đưa Việt Nam vào giai đoạn độc tài đảng trị. Nói cách khác, kể từ năm 1945, ông Hồ và đảng CSVN đã gỡ ách “mất độc lập” từ Thực dân Pháp nhưng tròng ách “mất tự do, độc tài, đảng trị” lên cổ dân tộc Việt Nam.

Bản Tuyên ngôn Độc lập ông Hồ đọc, vay mượn ý từ bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ, trong đó xác nhận: “những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

Bản Tuyên ngôn cũng khẳng định: “Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảngnhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn……”

Bản tuyên ngôn kết luận…"Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”

Ông Hồ xác định khi đọc bản Tuyên Ngôn ngày 2 tháng 9 năm 1945 rằng những lý lẽ đó là những “lẽ phải không ai chối cãi được”. Đúng vậy, không ai có thể chối cãi được, lật lọng được, đổi trắng thay đen được, vi phạm được…..trừ ông Hồ và đảng CSVN. Nếu thay thế chữ “Chúng” trong bảng Tuyên Ngôn Độc Lập bằng chữ “đảng CSVN” thì từ 64 năm nay, nền chính trị Việt Nam vẫn không có gì khác biệt. Thậm chí trong nhiều lãnh vực còn tệ hại hơn cả thời thực dân Pháp. Nói ông Hồ thay mặt đảng CSVN gỡ bỏ ách “mất độc lập” để tròng lên cổ dân tộc Việt Nam cái ách “mất tự do, độc tài, đảng trị” là không sai.

Ông Hồ cáo buộc thực dân Pháp đã không cho nhân dân Việt Nam một chút “Tự do Dân chủ” nào. Chúng thi hành những luật pháp dã man…….Thử so sánh chế độ chính trị của thực dân Pháp với chế độ chính trị Cộng sản Việt Nam hiện nay chúng ta thấy gì? Liệu dân tộc Việt Nam có tự do dân chủ tốt đẹp hơn thời thực dân Pháp không? Thời Pháp, các tờ báo độc lập không chịu ảnh hưởng của chính quyền thực dân được phép ra đời, các hội đoàn trá hình nằm dưới quyền kiểm soát của đảng CSVN cũng mọc ra như nấm. Cán bộ cộng sản và các nhà yêu nước độc lập cũng đã được tự do đi lại.

Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh du học từ Pháp về Việt Nam, đã giả dạng làm người bán dầu cù là, từ Sài Gòn, ông đi xuống các tỉnh miền Tây-Nam để công khai diển thuyết, kêu gọi lòng yêu nước, kêu gọi toàn dân làm cách mạng. Mật thám Pháp có theo dõi, gây khó khăn nhưng vẫn không trấn áp dã man và tàn độc so với an ninh, mật thám, công an của chế độ cộng sản Việt Nam. Lúc đó, thực dân Pháp đã không cáo buộc các nhà cách mạng Việt Nam, cũng như đảng viên đảng CSVN, tội tuyên truyền, nói xấu chế độ, âm mưu lật đổ nhà nước Pháp.

Chế độ thực dân Pháp không nham hiễm, tàn bạo và độc tài đến nỗi có thể “sáng tạo” ra điều 88 như đảng CSVN đang làm, chỉ nhằm để đàn áp các tiếng nói đòi tự do, dân chủ. Hiện nay, nạn nhân của điều 88 luật hình sự, cáo buộc phạm tội tuyên truyền chống chế độ, đang bị đảng CSVN giam cầm hoặc tuyên án, đã lên đến gần cả trăm năm tù. Những nạn nhân của điều 88 này không biết bao nhiêu mà kể. Linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Lê Thị Công Nhân, luật sư Nguyễn Văn Đài, luật sư Nguyễn Bắc Truyển, luật sư Trần Quốc Hiền, ký giả Trương Minh Đức, ký giả Huỳnh Nguyên Đạo, bác sĩ Lê Nguyên Sang, anh Đoàn Văn Diên, Nguyễn Tấn Hoành, chị Trần Thị Lệ Hồng, Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Phùng Quang Huyền, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Bá Hải, Trương Quốc Huy, Hàng Tấn Phát, Vũ Hoàng Hải, Trương Minh Nguyệt, Trần Khải Thanh Thuỷ, Lê Thị Kim Thu, Phạm Thanh Nghiên, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, thày giáo Vũ Hùng, Phạm Văn Trội, Ngô Quỳnh, Nguyễn Văn Tính, nhà báo Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, luật sư Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Anh Kim, Trần Huỳnh Duy Thức v.v….Đây là những nhà dân chủ được dư luận trong và ngoài nước biết tên, còn biết bao nhiêu chiến sĩ dân chủ khác đã bị bắt và trấn áp trong âm thầm, không án lệnh, không tội trạng, hoặc bị thủ tiêu, bị mang tội hình sự, không đem ra toà xét xử như Lê Trung Hiếu, Ngô Phát Đạt, Lê Trí Tuệ..v.v…Tất cả, đã và đang là nạn nhân trong các nhà tù của Cộng sản Việt Nam.

Đảng CSVN từng nặn ra tội làm tình báo cho ngoại bang, tội âm mưu lật đổ chế độ, tội lợi dụng dân chủ hoặc nhiều tội tuỳ tiện khác để trấn áp. Những Nguyễn Khắc Toàn, Lê Chí Quang, bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Lê Hồng Hà, bác sĩ Nguyễn Đan Quế, Hoà thượng Thích Quảng Độ, giáo sư Đoàn Viết Hoạt, thượng toạ Thích Thiện Minh, mục sư Nguyễn Hồng Quang, Bùi Kim Thành, Hồ Thị Bích Khương, Lưu Văn Sinh, luật sư Lê Quốc Quân..v.v….cũng đã từng là nạn nhân của ách độc tài. Tuy nhiên, từ lúc gia nhập vào Tổ chức Mậu dịch Quốc tế (WTO), chịu áp lực về chính trị và kinh tế trước dư luận thế giới, với sự khuyến cáo và chỉ trích của giới luật pháp quốc tế, việc cáo buộc tội tình báo, tội lật đổ chế độ không có chứng cớ, không đủ thuyết phục. Vì vậy, đảng CSVN đã không còn cáo buộc các tội trạng này nữa, nhưng thay vào đó, lại vu cáo tội trạng khác, đó là tội tuyên truyền nói xấu chế độ, tức điều 88 luật hình sự.

Từ 1945 đến nay, nhà nước độc tài toàn trị CSVN đã “lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thẳng tay bỏ tù, trấn áp những người yêu nước thương nòi của ta”. Sự kiện nhiều thanh niên sinh viên học sinh Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc xâm chiếm Trường Sa – Hoàng Sa, thể hiện lòng yêu nước nhưng bị công an CSVN ngăn cấm và đàn áp. Nhiều nhà dân chủ như nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, thày giáo Vũ Hùng, nhà báo Điếu Cày vì bày tỏ chính kiến chống Trung quốc xâm lược hiện đang bị ở tù. Họ chính là những người yêu nước thương nòi. Điều nghịch lý là, ông Hồ cũng viết trong bản Tuyên ngôn Độc lập như “Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.” Nếu không nói rỏ xuất xứ câu nói trên là của ông Hồ Chí Minh, nhân dân thời nay có thể nhầm đây là câu nói của những nhà đấu tranh đòi tự do dân chủ cho Việt Nam.

Đảng CSVN tự cho rằng vì có công đuổi Pháp nên đảng phải được nhân dân đãi ngộ, trong đó quyền lãnh đạo độc tôn suốt đời phải dành độc quyền cho Đảng. Không ai có quyền tranh dành, không ai có tư cách đặt vấn đề. Tại sao lúc đó, không đảng phái nào ra mặt lãnh đạo nhân dân đuổi Pháp? Bây giờ đất nước độc lập rồi lại đòi đa đảng, đòi tranh quyền lãnh đạo với đảng CSVN? Ông Phạm Thế Duyệt, Uỷ viên TW đảng CSVN đã phát biểu như vậy. Từ những nhận định cục bộ và kém cỏi trên, liệu chúng ta có thể đặt lại vấn đề với đảng CSVN là vì các tiền nhân như Vua Hùng, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ…. cũng từng đánh đuổi giặc ngoại xâm, có công dựng nước và giữ nước. Vậy thì con cháu của họ có quyền tham chính, quyền tranh dành vai trò lãnh đạo đất nước, hoặc dựng lại chế độ quân chủ theo họ Nguyễn, họ Trần, họ Lê không? Nếu không thì tại sao đảng CSVN lại được ngoại lệ? Chẳng lẽ đánh giặc Pháp công trạng to lớn hơn đuổi giặc Tàu?

Đó là về lãnh vực chính trị. Lãnh vực cấm kỵ của đảng CSVN vì tự cho có toàn quyền định đoạt vận mạng chính trị của dân tộc Việt. Riêng về lãnh vực kinh tế và xã hội, liệu chế độ CSVN có khác thời Thực dân Pháp không?

Lúc đó, ông Hồ qua bản Tuyên Ngôn đã cáo buộc thực dân Pháp như sau:
“Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảngnhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn……”

Nếu thay thế chứ “Chúng” bằng chữ “đảng CSVN” thì bức tranh Việt Nam hiện nay có khác không? Ai giữ độc quyền in giấy bạc? Ai kiểm soát công ty xuất cảng và nhập cảng các mặt hàng kinh tế chiến lược? Ai quản lý các cơ sở kinh tế quốc doanh? những đại công ty như công ty điện, công ty nước, công ty khai thác dầu mõ, công ty du lịch, công ty kỷ nghệ, công ty in ấn, công ty truyền thông, truyền hình, công ty phim ảnh, v.v….ai làm chủ? Thế nào là nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa? nếu không phải là đảng CSVN độc quyền về chính trị và…. “giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng, đặt ra trăm thứ thuế vô lý làm cho nhân dân Việt Nam, nhất là dân cày, dân buôn trở nên bần cùng, công nhân bị bóc lột, tư sản bị tước đoạt, trấn áp và hạn chế kinh doanh”.

Tại Việt Nam, tầng lớp bần cùng là ai? Dân cày, dân buôn lẻ và công nhân là những tầng lớp bị bóc lột thậm tệ nhất. Công nhân Việt Nam với đồng lương chết đói đang làm thuê cho tư bản ngoại quốc. Dân cày, nông dân thì từ những năm 1950 đã là nạn nhân của chính sách cải cách ruộng đất long trời lở đất, chính sách hợp tác xã nông nghiệp. Giới tư sản Việt Nam từ những năm 1945 ở miền Bắc và sau 1975 ở miền Nam đã là nạn nhân đẫm máu của đảng CSVN. Hiện nay, biết bao đất đai của nông dân đã bị nhà nước trưng dụng, thu mua với giá rẻ mạc để sang nhượng, bán lại cho tư bản.

Thực ra, đảng CSVN còn ăn cướp trắng trợn hơn thực dân Pháp nhiều vì đã chủ trương công khai “đất đai của nhân dân là của nhà nước”. Do đó, nếu vì nhu cầu, đảng CSVN có đủ tư cách pháp lý để chiếm đoạt, thu mua, trưng dụng hay tịch thu. Sau khi nắm chính quyền cả nước, tức là đã tròng được “ách độc tài” lên
cổ dân tộc Việt Nam, đảng CSVN đã không còn e dè gì nữa. Vì vậy, Hiến pháp Cộng Hoà Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam, được quốc hội thông qua từ 1992 đã minh thị chủ quyền của Đảng trên chính tài sản của nhân dân như sau:

Điều 17 xác nhận: Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục điạ…..cùng các tài sản khác mà pháp luật qui định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân.

Điều 18 minh thị: Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu qủa. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cà nhân sử dụng ổn định lâu dài. …

Tóm lại, tài sản riêng của nhân dân bất kể đất đai hay các tài sản khác mà pháp luật qui định bị đánh đồng là tài sản chung của Nhà nước, tức là của Đảng. Đảng CSVN tự cho phép họ trở thành chủ nhân ông một cách hợp pháp. Chính sách ăn cướp hay nói cách khác quốc hữu hóa tài sản của nhân dân một cách hợp pháp còn thâm độc hơn cả những cáo buộc mà ông Hồ Chí Minh đã minh thị trong bản Tuyên ngôn Độc lập đối với Thực dân Pháp từ năm 1945.

Dân tộc Việt nam đang chịu cảnh một cổ hai tròng. Bên cạnh ách bị “mất tự do, độc tài, đảng trị” do đảng CSVN treo. Ách “mất độc lập” hiện đang được đảng CSVN tự nguyện tròng trở lại. Những hiện tượng để mất đất, mất biển, tiếp tay để Trung Quốc xâm chiếm đất nước Việt Nam càng lúc càng xác định rõ nguy cơ “mất độc lập”. Mặc cho dư luận ngăn cản, đảng CSVN vẫn để Trung quốc khai thác Bauxit ở Tây Nguyên. Vùng biển đông đã bị quân Trung Quốc đòi chủ quyền, khoanh vùng và hạn chế ngư dân đánh cá. Những hiện tượng bị “tàu lạ” húc, bắt ngư dân đòi tiền chuộc, đe doạ công ty nước ngoài khai thác tài nguyên trên lãnh hải của Việt Nam đã xảy ra công khai. Trước thái độ hung hãn và xâm lược trắng trợn của Trung Quốc, CS Việt Nam đã đánh mất tư thế “độc lập”, đã biểu tỏ sự khiếp sợ và hèn yếu trước ngoại xâm. Đảng CSVN đang chấp nhận sự khinh miệt, phỉ nhổ từ nhân dân Việt Nam và dư luận thế giới để đổi lấy sự an toàn chính trị.

Chính quyền, đảng phái, cá nhân rồi sẽ tiêu hủy theo thời gian, chỉ có đất nước và dân tộc còn tồn tại. Nhưng đất nước và dân tộc cũng có thể sẽ bị huỷ diệt nếu chính quyền, đảng phái và cá nhân vì mù quáng, hèn nhát, cam tâm phản bội lại quyền lợi của đất nước và dân tộc.

Friday, August 21, 2009

Thư Thường Vụ TW Đảng DCND



ÐẢNG DÂN CHỦ NHÂN DÂN
The People's Democratic Party



Ngày 17 tháng 7 năm 2009


Nơi gửi: Thường Vụ TW Đảng DCND
Nơi nhận: Các Ủy Viên TW Đảng DCND
Các Thành Ủy Viên Hà Nội, Sài Gòn và Miền Trung
Các Ban, Cụm, Chi Bộ và Đảng viên trong và ngoài nước


Về việc: Nhận Định Của Thường Vụ TW Đảng DCND

Anh chị em thân mến:

Thời gian qua, tình hình cả nước đã có những diển biến chính trị phức tạp. Gần nhất là vụ bắt giữ các đảng viên đảng Dân chủ Việt Nam như Luật sư Lê Công Định, anh Nguyễn Tiến Trung, ông Trần Anh Kim v.v… Trước đó, từ tháng 9 năm 2008, nhiều anh chị em dân chủ gồm nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, thầy giáo Vũ Hùng, anh Ngô Quỳnh, Phạm Văn Trội, chị Phạm Thanh Nghiên v.v.. cũng đã bị bắt và sẽ bị nhà cầm quyền truy tố vi phạm điều 88, luật hình sự, tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCNVN.

Cũng giống như đợt đàn áp hồi tháng 8 năm 2006, nhằm bắt giữ một số lãnh đạo đảng DCND như bác sĩ Lê Nguyên Sang, luật sư Nguyễn Bắc Truyễn, Trần Quốc Hiền, ký giả Huỳnh Nguyên Đạo và nhiều đảng viên đảng DCND khác. Mục tiêu của đảng CSVN trong các lần trấn áp không thay đổi, bằng mọi giá đảng CSVN phải triệt tiêu tận gốc các lực lượng đối kháng, nhất là các đảng phái, tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam. Ông Nguyễn Minh Triết đã từng tuyên bố công khai “bỏ điều 4 Hiến Pháp là tự sát”. Đảng CSVN sợ hãi sự hiện diện và ảnh hưởng của đảng phái đối lập, vì nó có thể làm nguy hại đến sự tồn tại vai trò độc tôn lãnh đạo của họ. Cũng cần phải nhắc lại, bản báo cáo MẬT do ông Trương Tấn Sang ký, tường trình Bộ Chính Trị hồi năm 2007 đã chỉ thị “quản lý chặt chẽ các đối tượng phản động, cơ hội chính trị, kịp thời xử lý hành vi phạm pháp luật, đủ sức răn đe các phần tử cực đoan, chống đối chế độ xã hội chủ nghĩa, tuyệt đối không để xảy việc thành lập các đảng chính trị đối lập”.

Hiện nay, dân tộc ta đang một cổ hai tròng. Tròng độc tài do chính đảng CSVN treo vào cổ dân tộc, tròng kia chính là thân phận mất nước, đang bị đảng CSTQ gián tiếp chỉ đạo, giành biển lấn đất, hiếp đáp nhân dân ta. Để Việt Nam thoát khỏi cảnh độc tài, tụt hậu, thua kém các nước Đông Nam Á và đang nhục nhả bị lôi kéo thành một bộ phận của Trung Quốc; chúng ta phải hy sinh và phấn đấu không ngừng nghĩ để bảo vệ và xây dựng Đảng DCND trở thành một đối lực chính trị, cùng phối hợp với các đảng phái đối lập khác tại Việt Nam, đấu tranh dành lại nền Tự do, Dân chủ và Toàn vẹn Lãnh thổ. Vì đó chính là mục tiêu của nhân dân Việt Nam và cũng là xu thế tất yếu của lịch sử.

Thời gian qua, nhiều anh chị em đảng viên đảng DCND thuộc các Cụm mũi nhọn đã dũng cảm, mưu trí, liên tiếp thực hiện những hoạt động tuyên truyền và vận động dân chủ trong nhân dân. Cụ thể, nhiều đợt treo biểu ngữ, khẩu hiệu kêu gọi Dân chủ, đả đảo tham nhũng đã xảy ra tại Hà Nội và Sài Gòn. Rất nhiều lần, truyền đơn với nội dụng lên án đảng CSVN phản bội quyền lợi đất nước, làm tay sai và cho TQ khai thác Bauxit ở Tây Nguyên, đã được rải từ Hà Nội, Sài Gòn, Chợ Lớn đến các tỉnh miền Trung như Bình Định, Đà Nẳng. Bên cạnh các hoạt động nổi bật, nhiều công tác xây dựng và phát triển cơ sở đảng trong lực lượng thanh niên sinh viên và nhân dân đã có những thành quả cụ thể. Đặc biệt, tổng kết công tác phát triển cơ sở Đảng, mức phát triển đảng viên khắp nước đã đạt kỷ lục. Được những thành quả này, nhờ vào nhiều yếu tố, trong đó có gương hy sinh quả cảm của các lãnh đạo Đảng DCND đã và đang trải qua những năm tháng tù đày nhưng vẫn giữ khí tiết, không sợ hãi và bị khuất phục, nhờ sự dũng cảm và mưu trí đấu tranh cũa các đảng viên thuộc lực lượng mũi nhọn từ Bắc đến Nam, nhờ sự tin tưởng, khôn khéo, kiên trì làm công tác vận động và xây dựng đảng, và hơn hết là nhờ vào sự hy sinh đóng góp tài chánh của nhiều đảng viên tại hải ngoại, đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp chúng ta đẩy mạnh công tác phát triển đảng.

Anh chị em thân mến, so với gần 3 triệu đảng viên đảng CSVN, số lượng đảng viên đảng DCND chỉ là con số quá nhỏ. Dù vậy, phải tâm niệm chúng ta là biểu tượng của tương lai, đang đấu tranh ôn hoà cho chính nghĩa, vì sự tồn vong và tương lai của dân tộc, không phải vì đặc quyền, đặc lợi cho bản thân chúng ta. Ngược lại, đảng CSVN là biểu tượng của quá khứ, tội ác, là lực cản và đại diện cho bộ phận phản động đang kéo lùi đà tiến hoá của dân tộc. Vì vậy, mỗi một đảng viên khi dũng cảm tham gia đảng DCND trong hoàn cảnh rất khó khăn, gian khó, nguy hiểm cho bản thân và gia đình, có giá trị gấp ngàn lần con số đảng viên đảng CSVN.

Đảng CSVN đang chuẩn bị tổ chức Đại hội đảng lần thứ 11. Bên cạnh đó, công tác tổ chức kỷ niệm 1000 năm Thăng Long cũng sẽ tác động mạnh vào tình hình chính trị. Những biến động xấu về kinh tế, xã hội, tham nhũng, tình trạng Hán hoá tại Tây nguyên, áp lực xâm chiếm biển Đông của Trung Quốc và đặc biệt là các chia rẻ, mâu thuẩn vì quyền lợi của đảng CSVN có nguy cơ dẩn đến những đột biến cũng như làm mòn vị trí và uy tín chính trị của đảng CSVN. Trong bối cảnh trên, những công tác nhằm trấn áp các lực lượng dân chủ, trong đó có đảng DCND sẽ được an ninh CSVN gia tăng cường độ để củng cố vai trò độc tôn lãnh đạo của họ. Dù vậy, chúng ta cần tâm niệm phải cố gắng và tuân thủ các qui luật đấu tranh, chuẩn bị đối đầu và bảo vệ đảng vì năm 2010 sẽ là năm của gian nan và thử thách cho toàn đảng DCND.

Anh chị em thân mến! Tự do không cho không biếu không. Dân chủ phải đấu tranh và hy sinh mới có. Trên bước đường hy sinh vì lợi ích dân tộc, hành trang của chúng ta chỉ có lý tưởng và niềm tin tất thắng vào cuộc đấu tranh. Dù vậy, sa ngã, thối chí và thậm chí phản bội cũng có thể xảy ra như hệ quả tất yếu khi bị rơi vào hoàn cảnh nguy khốn. Chúng ta thông cảm cho những hành động đầu hàng nhưng không chấp nhận những thái độ phản bội. Nói cách khác, nếu phản bội, anh chị em đã tự động từ bỏ tư cách đảng viên đảng DCND.

Thay mặt Thường Vụ TW đảng DCND tôi gửi lời khích lệ và cảm ơn đến các anh chị em đảng viên các cấp đang hoạt động ngầm hay công khai trong và ngoài nước, đến các anh chị em đảng viên đang bị trấn áp và chịu cảnh tù đày, các lãnh đạo TW, cấp bộ Thành Ủy, Cụm và Chi Bộ đã khôn khéo lãnh đạo cơ sở đảng đấu tranh. Tôi cũng thay mặt đảng DCDN, cảm tạ những nổ lực yểm trợ của nhiều tổ chức, cá nhân tại hải ngoại, đã giúp cho Đảng DCND có phương tiện tài chánh hoạt động trong thời gian qua.

Trân trọng,
TM. Thường Vụ TW Đảng DCND
Nguyễn Sơn

Tuesday, August 4, 2009

Tương Lai Biển Đông


Đụng Độ Trên Biển Đông

Cuộc trạm chán giữa Hải quân Mỹ và Trung Quốc hồi tháng 3 năm 2009 tại biển Đông là giọt nước làm tràn ly. Tàu Hải quân Trung Quốc đã tìm cách khiêu khích, chận đường tàu thám hiểm Hải quân Mỹ USNS Impeccable, buộc tàu Mỹ phải khẩn cấp tránh để khỏi bị đụng độ. Sau vụ thử thách đó, Mỹ đã trở nên cứng rắn. Hoa Thịnh Đốn đưa ngay tàu khu trục USS Chung-hoon đi dò đường và hộ tống tàu thám hiểm hải quân Mỹ, không để cho tình trạng khiêu khích xảy ra nữa. Tàu khu trục hạm này gồm 275 thủy thủ đoàn, có trang bị ngư lôi và hoả tiển định hướng. Sự hiện diện của khu trục hạm tại Biển Đông đã làm Bắc Kinh tức giận nhưng bỏ hẳn thái độ khiêu khích vì sợ đụng độ. Đối với Mỹ thì Hải quân Trung Quốc vẫn chưa phải là đối thủ.

Sự kiện này đã làm thức tỉnh giới chức ngoại giao và quân sự Mỹ trước dã tâm và tham vọng bành trướng chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc đang thử “nắn gân” Hải quân Mỹ và gửi tín hiệu cho các quốc gia vùng về vai trò của mình. Trung Quốc muốn nhắn nhủ “biển đông thuộc chủ quyền của Trung quốc, Mỹ không nên tạo ảnh hưởng làm gì”. Đừng có lộn xộn trong vùng đó, nó thuộc chủ quyền của chúng tôi. Đó là nội dung Trung quốc muốn chuyển cho Mỹ và các quốc gia Á Châu.

Dĩ nhiên tín hiệu đó Hoa Thịnh Đốn đã nắm từ trước. Nhưng bận bịu với những biến động ở Trung Đông, Mỹ không dành ưu tiên cao cho mặt trận Á Châu. Dù vậy, Mỹ cũng không thể làm ngơ khi thấy Trung quốc làm mưa làm gió và tìm mọi cách chận đứng vai trò của Mỹ ở Châu Á. Nếu ảnh hưởng Mỹ bị co cụm, và Trung quốc trổi dậy như một thế lực nguy hiểm, đầy tham vọng thì khả năng một cuộc chiến tranh ở Châu Á khó tránh khỏi. Lúc đó, Mỹ có muốn can thiệp, trở tay cũng không kịp vì tình thế đã vượt ra khỏi tầm ảnh hưởng của Mỹ.

Thái Độ Của Trung Quốc

Rỏ ràng Trung Quốc đang tìm mọi cách bành trướng vị trí chiến lược của họ về mặt quân sự. Những đòi hỏi thô bạo, tham lam, không căn cứ về chủ quyền ở biển Đông. Những trạm chán, áp bức và thái độ hiếu chiến với Việt Nam cho thấy dã tâm của Trung quốc. Hiện nay, không những đường biển của Việt Nam bị co cụm mà một số quốc gia khối ASIAN cũng bị áp lực, trước sự hiện diện căn cứ quân sự Trung quốc tại các khu vực đang tranh chấp.

Tại đảo Woody (Phú Lâm) nằm trong quần đảo Trường Sa, Hải quân Trung quốc đã thiết lập một hải cảng chừng 350 mét với đường băng dài 2500 mét dành cho máy bay, chiến đấu cơ, tàu quân sự của Quân đội Nhân dân Trung Quốc. Tin giới nghiên cứu tiết lộ, Trung Quốc muốn biển đảo Woody thành một căn cứ quân sự, từ đó hướng tầm kiểm soát và làm nhiệm vụ yểm trợ các hoạt động tại biển Đông, nhất là khu vực đảo Trường Sa nếu chiến tranh xảy ra. Tại đây, các trạm lưu trử dầu, vũ khí, đạn dược đã được xây cất và đang đi vào qui trình hoạt động. Nhiều hỏa tiển Silkworm có mục tiêu chống tàu chiến cũng đã đặt tại căn cứ này. Với tầm bắn gần 60 dặm tại Woody, hoả tiển Silkworm có thể răn đe các tàu chiến dám lảng vảng trong các khu vực thuộc phạm vi kiểm soát của Trung Quốc. Hơn nữa, một trạm thu nhận tín hiệu tình báo đã được thiết lập tại đảo Rocky, nằm về phiá bắc của Woody. Đảo Rocky là đảo có độ cao nhất, dễ dàng làm nhiệm vụ quan sát các tàu chiến và những di chuyển trong vùng biển Đông.

Phi Trường trên đảo Woody

Trong quan hệ ngoại giao, Mỹ đã tái khẳng định chính sách cũa Mỹ đối với tranh chấp tại biển Đông là “các bên không nên dùng vũ lực để chiếm chủ quyền về lãnh hải, ngăn chận giao thông thuộc khu vực biển Đông và nằm trong lãnh vực hàng hải quốc tế.” Thực ra, bên cạnh đường biển, Mỹ cũng rất quan tâm đền đuờng trời nằm trong khu vực biển Đông. Vì ngoài cuộc trạm chán tại hồi đầu năm 2009, trước đó, không quân Mỹ -Trung quốc cũng đã từng đụng độ. Tháng 4 năm 2001, máy bay chiến đấu cơ F-8/J8II của hải quân Trung Quốc và EP-3E của Mỹ đã đụng nhau tại biển Đông. Chiến đấu cơ Trung quốc đã bám đuôi máy bay thám sát Mỹ để khiêu khích, vì bay qua gần, F-8/J8II đã mất khả năng kiểm soát, đụng vào phần cánh máy bay Mỹ, F-8/J8II rớt xuống biển, phi công Trung Quốc bị thiệt mạng. Máy bay EP-3E của Mỹ đã phải hạ cánh khẩn cấp tại đảo Hải Nam, toàn bộ phi hành đoàn 24 người đã bị Trung Quốc bắt giữ, 11 ngày sau Trung Quốc mới chịu giao trả lại cho Mỹ.

Phản Ứng Của Mỹ

Cuộc trám chán lần thứ nhất ở trên không, Trung Quốc muốn khẳng định với Mỹ và các quốc gia Á Châu là chủ quyền của Trung Quốc ở biển Đông gồm cả vùng biển lẫn vùng trời. Tuy nhiên, phải đợi đến lần đụng độ thứ hai, khi tàu dân sự thám hiểm Mỹ USNS Impeccable bị tàu chiến Trung Quốc khiêu khích, thì Hoa Thịnh Đốn thấy rỏ phải có thái độ, để Trung Quốc bớt hung hăng và hiếu chiến.

Tại Hội nghị các quốc gia thuộc khối ASIAN (Association of Southeast Asian Nations) tại Thái hôm tháng 7, 2009, bộ trưởng Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton đã tham dự và trao đổi với lãnh đạo các quốc gia ASEAN. Tại đây, bà ngoại trưởng Mỹ cũng đã ký kết thoả ước hữu nghị và hợp tác TAC (Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia) với khối ASEAN, một thoả ước tương đối lõng lẻo trong thiết lập quan hệ đối thoại về an ninh và hợp tác vùng, chủ trương tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ và không can thiệp vào nội bộ. Đây là thoả ước mà thời tổng thống Goerge W. Bush, phiá Mỹ đã từ chối ký kết.

Hồi năm 2007, bà Ngoại trưởng Condoleezza Rice thay vì tham dự hội nghị thường niên của ASEAN thì lại bay qua Trung Đông. Lúc đó Mỹ đặt mối quan tâm Trung Đông quan trọng hơn Á Châu. Lần này, phát biểu tại Bang kok, bà Tân Ngoại trưởng Hillary Clinton cho biết “chúng tôi đã trở lại”. Bà muốn ám chỉ đến chính sách bỏ rơi Á Châu từ thời cựu Tổng thống George W. Bush. Tình thế hiện nay đã khác sau khi Hoa Kỳ thay đổi lãnh đạo cùng với chính sách mới về Á Châu. Điều này cho thấy, Hoa Thịnh Đốn đã gửi thông điệp rất mạnh mẽ cho Trung Quốc và ASEAN. Hoa Kỳ không thể để Trung Quốc “muá gậy vườn hoang” tại biển Đông.

Những biến động tại Biển Đông với viễn ảnh Trung Quốc kiểm soát đường biển là điều không thể chấp nhận về mặt chủ quyền, không những đối với các quốc gia đang trong vòng tranh chấp gồm Việt Nam, Mã Lai Á, Philipine, Đài Loan..v..v… mà ngay cả đối với quyền lợi Hoa Kỳ cũng bị ảnh hưởng. Nói cách khác, nếu điều đó xảy ra, hải chiến giữa Trung Quốc và các quốc gia dành chủ quyền trên biển Đông khó tránh khỏi. Lúc đó, Hoa kỳ không thể đứng bên lề hoặc làm đồng minh của Trung Quốc, vì như vậy Hoa Kỳ tự triệt hạ vai trò và quyền lợi chiến lược của mình tại Á châu. Chiến tranh trên biển Đông xảy ra, điều khủng hoảng nhất đối với Mỹ và thế giới là gần 30% đường dẫn dầu quốc tế bị đình động, hơn 50% hàng hoá vận chuyển bằng đường thủy trên toàn thế giới bị gián đoạn. Lo ngại hơn nữa, nếu Trung Quốc kiểm soát các vùng tranh chấp, khả năng các đường lưu thông trên biển sẽ bị Hải quân Trung Quốc ngăn chận. Vì vậy, sự hiện diện của Mỹ tại biển Đông vô cùng quan trọng, vừa có thể cầm chân thái độ khiêu khích, hiếu chiến của Trung Quốc, vừa làm trọng tài để giải quyết những tranh chấp trong vùng, vừa làm chổ đối trọng cho các quốc gia khối ASEAN, nhằm tránh một cuộc chiến tranh thế giới có thể xảy ra.

Về mặt thực tế, nếu có trạm chán quân sự, chiến tranh giữa Trung Quốc với Đài Loan hoặc Việt Nam là những đối tác có nguy cơ dẫn đến tác động lớn nhất.

Trung Quốc Và Đài Loan

Trung Quốc đã hăm he dùng vũ lực để giải quyết Đài Loan. Nếu không có Hiệp ước bảo vệ giữa Mỹ và Đài Loan, Trung Quốc đã chiếm Đài Loan từ lâu. Mỹ không khuyến khích Đài Loan đi vào qui chế độc lập vì như vậy sẽ khiêu khích Trung Quốc, nhưng Mỹ cũng khẳng định, nếu Trung Quốc đánh Đài Loan, quân Mỹ sẽ không khoan tay đứng nhìn. Tham vọng của Trung Quốc vẫn là phải chiếm Đài Loan và làm chủ toàn bộ khu vực biển Đông. Muốn vậy, Trung Quốc phải triệt hạ Việt Nam.

Hồi tháng 10 năm ngoái, Mỹ đã bán cho Đài Loan 6.4 tỷ mỹ kim vũ khí quân sự gồm 300 Patriot III chống hoả tiển, 30 máy bay trực thăng tấn công Apache, 32 hoả tiển Harpoon và 182 hoả tiển Javelin chống tăng. Hiệp ước Đài Loan 1979 (Taiwan Relations Act 1979) cho phép Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan để “tăng cường khả năng phòng thủ và tự vệ của quốc gia này”. Hiệp ước cũng khẳng định “nếu dùng bất cứ các phương tiện quân sự, hoặc bao vây, tảy chay Đài Loan nhằm áp chế Đài Loan tức là cố ý khiêu khích gấy chiến và làm mất quân bình trong vùng, đều dẫn đến mối quan tâm sâu xa của Mỹ”.

Đài Loan rất muốn trang bị tàu ngầm tối tân của Mỹ nhưng vì sợ Đài Loan khiêu khích Trung quốc, Mỹ đã từ chối bán. Đối với Trung Quốc, một Đài Loan trang bị tàu ngầm tối tân được coi như thái độ thách thức, làm cho tình thế thêm rối rắm và căng thẳng. Trước đây, Đài Loan từng mua 2 chiếc tàu ngầm của Phần Lan, sự kiện này đã dẫn đến việc Trung Quốc triệu hồi đại sứ Trung Quốc tại Phần lan. Áp lực, quan hệ ngoại giao hai nước đã xấu đi trong suốt nhiều năm trời. Với số quân chừng 350 ngàn so với hơn 2.5 triệu quân của Trung Quốc, trang bị vũ khí yếu so với tầm vóc hiện đại của quân Trung Quốc, Đài Loan hoàn toàn không khả năng tự vệ khi Trung Quốc mở cuộc tấn công bất ngờ. Vì vậy, nếu bất cứ lý do gì Hiệp ước Đài Loan năm 1979 không còn giá trị, đảo Đài Loan thuộc vào tay Trung Quốc chỉ còn là thời gian.

Việt Nam Trước Viễn Ảnh Chiến Tranh

Trước thái độ Trung Quốc leo thang, ngang ngược xâm chiếm lãnh thổ. Việt Nam giữ thái độ ngậm bồ hòn. Dù vậy, thời gian gần đây, có dấu hiệu cho thấy Việt Nam đang từng bước tân trang quân đội để chuẩn bị đối đầu. Kinh nghiệm cuộc chiến tranh biên giới 1979, khi Trung Quốc đánh bất ngờ vẫn còn chưa phai nhạt đối với các lãnh tụ cộng sản Hà Nội. Và viễn ảnh của chiến tranh Việt – Trung sẽ xảy ra để giải quyết các mối bất đồng là điều “không thể tránh khỏi”.

Chiến đấu cơ Su-30MK2

Từ tháng 4 năm 1999 Hà Nội đã trang bị nhiều hoả tiển Scud của Bắc Hàn với tổng số lên đến cả trăm triệu mỹ kim. Việt Nam cũng đã chi ra 300 triệu mỹ kim để mua hệ thống hoả tiển phòng thủ trên không S300 PMU1 của Nga. Đây là loại hỏa tiển bắn các mục tiêu bay thấp. Hà Nội cũng bày tỏ ý định muốn mua S300 PMU2, một loại hoả tiển phòng không trang bị đầu đạn có định hướng dùng để ngăn chận hoả tiển bắn từ xa, tốc độ S300 PUM2 là 10,000 km một giờ và có thể bắn xa đến 200 km, thay vì chỉ có 150 km như S300 PMU1.

Tháng 3 năm 2001, Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố khi có mặt tại Hà Nội “Việt Nam không những phải tái chỉnh trang thiết bị quân sự cũ mà cần mua thêm nhiều trang thiết bị quân sự tối tân của Nga nữa”. Năm 1995 Hà Nội mua sáu chiếc phản lực Sukhoi Su-27 trị giá 150 triệu mỹ kim, đồng thời đặt mua thêm 6 chiếc Su-27 nữa cho năm 1997. Những năm sau đó, Hà Nội liên tiếp mua máy bay Su-30, nhiều hoả tiển, hoả tiển chống tàu chiến Mosquito có khả năng điều khiển bay ở độ thấp, bắn mục tiêu xa 120 kilometer và trang bị thêm 4 trạm kiểm soát sóng radar để phát hiện máy bay “Trung Quốc” xâm nhập. Cuối tháng 11 năm 2007, Nga chuyển giao 2 tàu tuần tra Molniya có gắn đầu hoả tiển, sau đó trong năm 2007 Nga giúp Việt Nam tự sản xuất thêm 20 chiếc tuần tra loại này. Tất cả những kỷ thuật quốc phòng cho công nghệ chế tạo tàu Molniya đã được Nga chuyển giao cho Việt Nam với phí tổn gần 1 tỷ dollars. Chưa an tâm, Việt Nam bỏ ra thêm 300 triệu mỹ kim để mua lại công nghệ chế tạo hoả tiển Yakhont chống tàu chiến. Năm 2009, Việt Nam đã mua thêm 12 chiếc phản lực loại cực tối tân Su-30MK2 và 6 chiếc tàu ngầm Kilo của Nga, tổng giá tiền gần 2.5 tỷ dollars.

Tàu ngầm Kilo


Chưa bằng lòng với các trang thiết bị quân sự của Nga, Việt Nam cũng tìm cách mua thêm các vũ khí hiện đại khác của Ấn Độ. Việt Nam ngõ ý mua hoả tiển Brahmos, có tầm bắn xa 300 km. Nhưng vì đây là loại hoả tiển tối tân nhất của Ấn, bị ràng buộc về thoả thuận không tiết lộ bí mật kỷ thuật, nên Ấn không thể bán cho Hà Nội. Giới chức ngoại giao Ấn tiết lộ, họ nghĩ Ấn có thể bán cho Hà Nội loại hoả tiển có tầm kỷ thuật thấp hơn, đó là loại hoả tiển đối không Prithvi với chức năng không thua gì hoả tiển Brahmos.

Việt nam cũng đang có ý tìm kiếm những vũ khí tối tân khác, trong đó khai dụng “nguyên tử” như một lá chắn trước áp lực và dã tâm của Trung quốc. Năm ngoái, ông Christopher Hill, trưởng phái đoàn Mỹ đặc trách về “nguyên tử” tường trình trước Thượng viện Mỹ về chuyến đi Á châu, nhằm chuẩn bị cho cuộc thương thuyết về nguyên tử với Bắc Hàn. Khi Thượng Viện Mỹ đặt vấn đề liệu Việt Nam có đi theo con đường của Bắc Hàn không? Ông Christopher Hill trả lời một cách tự tin là “Việt Nam chưa có khả năng nghiên cứu về nguyên tử và không có tham vọng sở đắc vũ khí nguyên tử như Bắc Hàn, chúng ta có thể tin điều này”.

Nói vậy chứ không phải vậy, vì liệu Mỹ có thể tin cậy được những lời hứa hẹn của Hà Nội. Quan hệ mật thiết với Bình Nhưỡng, Hà Nội có thể tìm kiếm trợ giúp về mặt kỷ thuật để xây dựng lò "hạt nhân nguyên tử" và điều này đã nằm trong vòng quan tâm của lãnh đạo Hà nội, trước tình trạng láng giềng khổng lồ chực “ăn tươi nuốt sống”. Điều cản trở Việt Nam không phải là Bình Nhưỡng mà chính là Bắc Kinh, vì không đời nào Bắc Kinh cho phép Bình Nhưỡng giúp Việt Nam thủ đắc khả năng phòng ngừa “lá chắn nguyên tử” để chống lại họ. Vì vậy, Việt Nam đã tìm đến Ấn Độ như một nguồn cung cấp kỷ thuật “nguyên tử” sau Bình Nhưỡng.

Tháng 10 năm 2005, Trung tướng Nguyễn Thịnh, chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu Quốc phòng dẫn đầu phái đoàn quân sự đến thăm Viện Nghiên cứu Quốc phòng Ấn. Tại đây, ông Thịnh đã bày tỏ mong muốn được Ấn Độ giúp Việt Nam kỷ thuật để xây dựng cơ sở chế tạo hoả tiển. Việt Nam cũng muốn mua hoả tiển điểu khiển tối tân Brahmos, có tầm bắn xa 300km của Ấn. Ông Thịnh cho biết, Việt Nam cần hoả tiển có tầm bắn xa để bảo vệ biển Đông và cầm chân hải quân Trung quốc. Hoả tiển Brahmos của Ấn Độ là sản phẩm quân sự chung Nga và Ấn. Brahmos là viết tắt của chữ Brahmaputra, tên một dòng sông Ấn và Moscow. Đây là hoả tiển bay nhanh nhất thế giới ở tốc độ vượt âm thanh. Với kích thước nặng từ 2500kg đến 3000kg tuỳ theo dàn phóng, dài 8.4 m, đường kính 0.6m, Brahmos có thể bắn mục tiêu xa 290km. Điều tiện lợi của hoả tiển này là có thể bắn trên tàu chiến, tàu ngầm, mặt đất và cả máy bay. Đặc biệt, Brahmos có thể tái chỉnh trang để gắn cho các chiến đấu cơ Su-30 và Su-30MK2 của Nga mà Hà Nội đang có.

Hỏa tiển Brahmos

Mặc dù việc mua bán này sẽ không thuận thảo vì Ấn Độ không thể chuyển giao công nghệ quốc phòng tối tân cho Việt Nam, nhưng Ấn cũng đã tìm cách giúp Việt Nam huấn luyện chuyên viên về tàu ngầm. Hiện tại, Ấn cấp hơn 500 học bổng cho du học sinh Việt Nam và Ấn cũng đang huấn luyện Việt Nam về kỷ thuật nguyên tử chỉ “dùng cho dân sự”. Điều cần lưu tâm là nếu Việt Nam đồng ý cho Ấn sử dụng cảng Cam Ranh, việc chuyển giao kỷ thuật cao của hoả tiển Brahmos và cả công nghệ “hạt nhân nguyên tử” cho Việt Nam, có thể là những vấn đề mà cả Trung quốc, Hoa Kỳ, Nhật và các nước Đông Nam Á sẽ bị bất ngờ.

Chiến tranh Việt – Trung sẽ phải xảy ra để giải quyết những tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Nhân dân Việt Nam không thể chấp nhận lãnh thổ càng lúc càng bị co cụm và nhục nhã trước tình trạng bị mất đất, mất biển. Đồng thời, dù lãnh đạo đảng CSVN có nhịn nhục, khiếp sợ đến cở nào thì Trung Quốc cũng phải chiếm các vùng biển Đông, vì nhu cầu chiến lược quân sự và tham vọng bá quyền. Hiện nay, Việt Nam đang nhịn nhục để mua thời gian, hiện đại hoá quân đội, chuẩn bị cho giai đoạn thử lửa, đối đầu và đánh trả nếu không còn sự chọn lưạ. Trung Quốc với tổng số chi tiêu cho ngân quỹ quốc phòng hàng năm trên 150 tỷ dollars và 2.5 triệu quân chính quy, nửa triệu quân Việt Nam không đủ vai vế để đương cự nếu chiến tranh bùng nổ. (*)

Sau cuộc chiến Việt - Trung 1979, Việt Nam đã bỏ mất cơ hội hiện đại hoá quân đội. Giờ mới bắt đầu thì đã muộn. Phải mất một thời gian dài, tốn nhiều tiền của, công sức, trí tuệ, quan hệ và sự khôn ngoan để Việt Nam đưa quân đội xứng với tầm cở thể kỷ 21. Tuy nhiên, đảng CSVN cần hiểu rằng quân đội chỉ có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, khi quân đội “hy sinh để bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ đảng”, nhất là đảng đang “phản bội và đi ngược lại quyền lợi” của dân tộc.

Nếu chỉ dựa vào vũ khí quân sự tối tân thì vài chục năm sau Việt Nam cũng không đủ sức đối đầu với Trung quốc. Hiểm hoạ bị hán hoá trên nhiều lãnh vực, kể cả lãnh thổ là điều khả thi nếu Hà Nội chỉ biết bám vào sức mạnh của quân đội. Từ ngàn xưa, Trung Quốc luôn mạnh hơn Việt Nam nhưng Đại Hán vẫn không thể nuốt nổi An Nam. Chính nhờ vào lòng yêu nước, ý chí quật cường và tinh thần đoàn kết trên dưới một lòng của Vua tôi nước Nam mà Việt Nam còn hiện hữu đến hôm nay. Chiếm thành dễ, nhưng giữ thành khó. Đảng CSVN đã chiếm được đất nước Việt Nam nhưng không bao giờ giữ được lòng dân. Chế độ độc tài Hà nội cai trị dân dựa vào bạo lực, mất đi sức mạnh của trấn áp, chế độ công an trị sẽ bị đổ nhào. Kẻ chơi dao, chết vì dao. Chế độ bạo lực sẽ là nạn nhân của bạo lực. Lịch sữ đã minh chứng như vậy đối với các chế độ độc tài, bạo ngược, cuồng vọng như Tần Thủy Hoàng, Hitler, Mussolini, Ceausescu..v.v…

Hiện nay, Hà nội không thể huy động lòng yêu nước, ý chí quật cường và sức mạnh dân tộc để chống ngoại xâm. Một chế độ độc tài, đảng trị, mất lòng dân, không đủ khả năng bảo vệ Tổ Quốc khi bị ngoại xâm. Cho dù mưu toan thay tên, đổi đảng hay bỏ hẳn mục tiêu xây dựng Chủ nghĩa xã hội, để được làm đồng minh của Mỹ, Nhật, Ấn cho thế trận Trung - Việt..v.v…vẫn không thể giải quyết được yếm thế của Hà Nội. Tứ bề thọ địch, ngoại công nội kích, chế độ độc đảng Hà nội khó tồn tại lâu dài trước nhiều áp lực. Chỉ một nước Việt Nam Tự do, Dân chủ mới có thể giữ được sự toàn vẹn lãnh thổ. Điều này chính là mục tiêu mà Nhân dân Việt Nam đang đấu tranh và những người yêu nước trong đảng CSVN cũng như các thế lực quốc tế không thể xem thường.

California, tháng 8 năm 2009

---------
(*) Military analysts can make an educated guess, however, and most say that China's real defense spending is two to four times what is officially stated. Beijing has announced an outlay of 351 billion yuan, or about US$45 billion for 2007, which means the real defense budget could be as high as US$180 billion. (The true about China’s Military)

Monday, August 3, 2009

Thông Báo

Đảng Dân Chủ Nhân Dân
The People's Democratic Party

Thông Báo

V/v: Trang Nhà Đảng DCND Bị Phá Hoại


California - ngày 3 tháng 8 năm 2009 - Chúng tôi xin trân trọng thông báo đến các cơ quan ngôn luận, độc giả, thân hửu và đảng viên Đảng DCND về tình trạng trang nhà của Đảng Dân Chủ Nhân Dân như sau:

- Ngày 1 tháng 8 năm 2009, trang nhà Đảng Dân chủ Nhân Dân ở địa chỉ ddcnd.org đã bị tin tặc (hackers) CSVN tấn công và tạm ngưng hoạt động. Hiện nay chúng tôi đang nổ lực hồi phục lại. Thời gian qua, trang nhà Đảng DCND đã được nhiều độc giả vào thăm, trung bình số lượng lên đến cả ngàn người mỗi ngày, trong đó có rất nhiều người đã vượt tường lửa từ Việt Nam. Dù ngăn chận bằng tường lửa nhưng CSVN vẫn lo sợ, vì vậy phải dùng biện pháp đánh sập trang nhà của Đảng DCND.

- Tạm thời trang nhà mới được lưu trử và phổ biến thông tin của Đảng Dân Chủ Nhân Dân ở địa chỉ: http://dangdcnd.blogspot.com/


Trân trọng,
T.M. Đảng DCND